Sau Kinh Thi, Sở Từ là những tác phẩm văn thơ của phương nam Trung Quốc – nước Sở. Đặc điểm thú vị của Sở Từ, đó là sự xuất hiện những vần thơ – ba âm tiết. Người ta nói rằng, vẻ đẹp cổ điển chắc nặng của hai âm tiết trong Kinh Thi kết hợp với vẻ đẹp sinh động ba âm tiết trong Sở từ, đã hình thành nên Hán nhạc phủ.
Funchinese xin phép giới thiệu bài hát có lẽ được lưu truyền nổi tiếng nhất thời Hán bấy giờ.
Bài thơ có tên gọi khá dài – Ẩm mã trường thành quật hành, kể về một thê tử nhớ về trạng phu của mình nơi biên cương.
Hán Vũ Đế, vị hoàng đế sống ở Trường An nhưng quốc thổ rất lớn. Ông không biết bách tính đang hát bài hát gì? nếu một vị hoàng đế không biết bách tính đang hát bài hát gì, đồng nghĩa với việc không biết tâm tính, mong muốn của bách tính ra sao. Vì vậy, Hán Vũ Đế đã lập nên một chức quan là Hán nhạc phủ. Hán là nhà Hán, nhạc là âm nhạc. Trước đây, thơ là những bài hát, là nhạc, không phải giống như đọc thơ như bây giờ. Phủ là quan phủ chuyên chịu trách nhiệm đi đến mọi miền để ghi lại những bài hát dân gian, sau đó về hát cho hoàng đế nghe.
Nhà Hán tồn tại hơn 400 năm có quốc thổ vô cùng rộng lớn, vì vậy, luôn cần trưng dụng binh lính, và có lẽ bài hát này được lưu truyền rộng rãi bởi đó là tiếng lòng của biết bao thiếu phụ ở quê nhà.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những ngọn cỏ xanh xanh ở bờ sông. Ngày xưa, phụ nữ thường ra sông suối để giặt quần áo, rửa rau. Khi mùa xuân đến, những ngọn cỏ vì gần sông nên được bồi đắp xanh rì. Vậy, có nghĩa lại một năm nữa qua đi, với một thê tử trong sắc xuân ấy, trong lòng có nhiều tâm sự. Và cô cất tiếng hát, những ngọn cỏ lấy ló từ phía xa, miên miên có nghĩa là kéo dài dằng dặc, sẽ còn đi xa nơi rất xa nữa.

Câu thứ 2 lặp lại từ viễn đạo, để nhấn mạnh nơi trượng phu đi chiến trận rất xa, xa đến độ mà cô không thể tượng tượng được. Xa đến nỗi sớm tối đều nhớ đến trượng phu, mơ thấy trượng phụ đang ở bên cạnh mình. Một điều vô cùng xúc động ở đây, đó là khi đến cùng cực của nỗi cô đơn, giấc mơ đã đến vỗ về, an ủi. Nhưng giấc mơ luôn ngắn ngủi, và đột nhiên tỉnh dậy, người ấy ở nơi xa, trằn trọc không biết bao giờ gặp mặt. 8 câu nói lên tâm tư của người vợ nhớ đến chồng đi chiến trận, cảm giác vô cùng bi ai.
Bài thơ sử dụng những âm lặp như thanh thanh,miên miên, biểu thị sự liên tục. Và cứ 2 từ cuối câu lại làm âm mở đầu cho câu sau như một vòng lặp lại tha hương, tha hương, mộng kiến, mộng kiến, khiến chúng ta cảm nhận rõ nỗi lòng dằn vặt, trằn trọc nhớ đến trượng phu.
4 câu tiếp theo vẽ lên nỗi tuyệt vọng tận cùng. Cây dâu đang cằn cỗi, nó biết gió đang thổi, hô ứng với gió trời. Nước biển tưởng vô tình mà cũng biết rằng thiên hạn, đọc đến đây thì ta cảm thấy vô cùng đau xót. Và rồi khi về đến nhà thì ai cũng có người bên cạnh, ai có thể nói với tôi một câu hay không?
Bài thơ có thể đến đây là kết thúc, nhưng bài hát dân ca – tiếng nói của người dân thì luôn cần mang đến hi vọng.
Đột nhiên, có một người mang thư đến. Chúng ta có thể tưởng tượng xem tâm trạng hoan hỉ, hạnh phúc của người phụ nữ nhận được thư lúc bấy giờ. Bởi, đã có lúc mất đi hi vọng không thể gặp, và cuối cùng lại có tin tức thì trân quý đến mức thế nào.
Thời Hán lúc bây giờ dùng loại vải trắng để viết thư. Và để đóng gói bức thư bằng vải trắng thì người ta đóng gỗ hình cá bọc ở ngoài. Và người phụ nữ gọi con để mở vỏ gỗ hình cá để đọc thư. Và hình ảnh quỳ xuống đoc thư, vô cùng thận trọng, bởi không biết trong thư viết những gì?
Và hai câu cuối giản dị mà vô cùng xúc động, là lời nhắc nhở chú ý ăn cơm. Tình yêu sâu sắc đến mức là quan tâm đến việc ăn uống, đến sức khỏe, sau đó mới bày tỏ ta rất nhớ đến nàng.
Có 0 bình luận