18/04/2025
tiengtrungchamrai
42

Phần III – Lược dịch về tác phẩm thư pháp đệ tam hành thư ” Hàn Thực thiếp” của Tô Đông Pha.



Trong phần trước, Tiếng Trung chậm rãi đã cùng với độc giả thưởng thức danh tác nổi tiếng Giang Thành Tử của Tô Thức với câu tuyệt cú 纵使相逢应不识 – Túng sử tương phùng ưng bất thức (nếu khi gặp nhau cũng không thể nhận ra nhau). Câu thơ đó chứa đựng một tình cảm sâu đậm mà ai trong chúng ta rồi cũng có lúc phải trải qua. Và hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu một chút về bài thơ Thủy điệu ca đầu được viết khi Tô Thức 40 tuổi.

Bài thơ mà sau 1000 năm vẫn được tiếp tục truyền xướng rộng rãi trong bài hát của các danh ca nổi tiếng trong đó có nữ ca sỹ Vương Phi.

明月几时有 把酒问青天

不知天上宫阙, 今夕是何年

Minh nguyệt kỷ thời hữu?

Bả tửu vấn thanh thiên.

Bất tri thiên thượng cung khuyết,

Kim tịch thị hà niên.

Trăng sáng có từ bao giờ,

Cầm chén rượu hỏi trời xanh.

Không biết là cung điện trên trời,

Đêm nay là năm nào?

Khi đọc những câu thơ này khiến chúng ta nhớ ngay đến Lý Bạch, bởi Lý Bạch mỗi khi uống rượu luôn nâng cốc lên mời trăng. Chúng ta cảm nhận ở ông một sự hào sảng, một chút gì đó giải phóng bản thân.

Hồi còn trẻ, tôi rất yêu Lý Bạch, yêu đến mức cố chấp, và rất ghét Đỗ Phủ. Tôi cảm thấy Đỗ Phủ rất càm ràm, cứ nói những chuyện vặt vãnh nhà người ta.

Trong bài Thuật hoài, Đỗ Phủ viết: “Đi giầy gai vào chầu vua, áo rách còn lòi cả hai cùi chỏ”. Nhưng bởi vì ông rất nghèo, rất khổ.

Nhưng mà tuổi trẻ thì hãy cứ yêu Lý Bạch, và chờ đến khi 40, 50 tuổi thì sẽ cảm thấy hổ thẹn với Đỗ Phủ, bởi vì khi ấy, bạn mới biết đến đắng cay của cuộc đời.

Tôi rất thích hai nhà thơ cách nhau mười mấy năm tuổi này, bởi, một người giúp ta hoàn thiện vẻ đẹp của thanh xuân, một người cùng chúng ta kinh qua sự bi tráng của tuổi trung niên.

Hai nhà thơ, hai phong cách thơ, đóng vai trò khác nhau trong cuộc đời chúng ta. Cổ vũ một người trẻ tuổi yêu Lý Bạch, nhưng không ảnh hưởng đến khi tới tuổi trung niên có thể thành kính với Đỗ Phủ.

Và đến tuổi như tôi thì lại là Vương Duy,

晚年惟好静 万事不关心

Vãn niên duy hiếu tĩnh,

Vạn sự bất quan tâm.

Những năm về già tính thích yên lặng

Mọi sự không còn quan tâm đến

Hồi còn trẻ, tôi vô cùng ghét câu thơ này của Vương Duy, tại sao lại mọi sự không còn quan tâm đến. Đến tuổi bây giờ, tôi mới cảm thấy sự thê lương trong hai câu thơ này của Vương Duy.

Khi An Lộc Sơn làm loạn, Hoàng đế Đường Huyền Tông chạy trốn, mang theo Dương Ngọc Hoàn, nhưng có nhiều quan tướng không chạy thoát, trong đó có Vương Duy.

Và khi An Lộc Sơn đăng cơ lên ngôi hoàng đế, cần có một vị quan chủ trì nhạc lễ, và Vương Duy trước đó đang là vị quan phụ trách công việc nhạc lễ của triều đình.

Vương Duy là vị quan dưới thời Hoàng đế Đường Huyền Tông, nên đương nhiên, ông không thể làm phản và từ chối lời đề nghị của An Lạc Sơn. Nhưng sau đó, Vương Duy không còn cách nào khác, vẫn phải kìm nước mắt để diễn tấu lễ nhạc đăng cơ của An Lộc Sơn. Bởi vì nếu ông không đồng ý thì không chỉ mình ông mà tất cả mọi người trong ban nhạc sẽ bị chém đầu.

Không lâu sau đó, nhà Đường trung hưng trở lại, và Vương Duy bị luận tội chết vì bất trung. Thật may, Vương Duy có một người em trai tên là Vương Tấn, là người có công giúp nhà Đường trung hưng, và ông nguyện dùng tất cả công danh của mình để bảo trợ cho anh trai thoát tội chết. Vì vậy, Vương Duy được thả ra, sau đó đến vùng Lam Điền – Sơn Tây ẩn cư, và cũng từ đó vãn niên duy hảo tĩnh, vạn sự bất quan tâm.



Tôi cảm thấy ẩn sâu dưới những câu thơ của Vương Duy có một sự bi thương rất lớn. Một văn nhân bị đả áp đứng trước ranh giới sinh tử thì trước ông, mọi sự đều hoàn toàn tan biến.

Tôi thấy rằng, thơ văn hay ở chỗ, đó là trong từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời lại xướng lên những vần thơ khác nhau, từ sự nhiệt thành của thanh xuân cho đến sự thê lương của tuổi trung niên, và cho đến tuổi già có một lĩnh ngộ lớn hơn.

Một người gọi là tiên thơ, một người gọi là thánh thơ, một người là phật thơ.

Tiên không ở trong chốn nhân gian mà luôn nói chuyện với trăng gió. Thánh thơ chính là người phải sống trong nhân gian, luôn là , “Nơi cửa son rượu thịt ê hề, ngoài đường cái có xương người chết rét”, luôn luôn viết đến những điều khiến bạn cảm thấy bi thương nhất trong xã hội.

Trong phần đầu của bài thơ Thủy điệu ca đầu của Tô Thức, chúng ta tìm thấy một phong cách rất Lý Bạch với câu thơ “cầm chén rượu hỏi trời xanh”, và phía sau bài thơ, bạn sẽ chứng kiến sự xuất hiện dần dần của một Đỗ Phủ.

Và điều khiến chúng ta vô cùng ngạc nhiên bởi sự dũng cảm của Tô Thức khi dùng những câu chữ vô cùng giản đơn : “Người có lúc buồn, vui, tan, hợp, Trăng có đêm tối, sáng, tròn, khuyết”.

Và đó có lẽ chính sự chân thực nhất, giản dị, sơ mộc nhất, phổ thế nhất đã tạo nên giá trị trong phong cách thơ của Tô Thức.

Giá trị đó thể hiện trong suy ngẫm của Tô Thức khi có bao nhiêu người không thể hội tụ với người thân như ông không thể gặp mặt người em trai của mình.

Mọi việc trong cuộc đời cũng như vầng trăng không thể luôn tròn trịa, viên mãn, phải có khi tròn, khi khuyết và con người ở trong lúc khốn cùng chỉ có thể đành mộng tưởng và phát nguyện.

但愿人长久千里共婵娟,

Đãn nguyện nhân trường cửu,

Thiên lý cộng thiền quyên.

Những mong người lâu dài,

Ngàn dặm cùng chung vẻ đẹp của trăng.

Tô Thức nguyện rằng, những mong người lâu dài, và cho dù chúng ta ở những nơi khác nhau, nhưng có thể cùng ngắm nhìn một vầng trăng.

Và đọc đến đây, các bạn đã hiểu vì sao sau 1000 năm, bài thơ được phổ nhạc, và luôn nhận được sự yêu mến.



Và vì phần bình về “Hàn thực thiếp” do bác Tưởng Huân nói khá dài, nên Tiếng trung chậm rãi xin phép sẽ lược dịch tiếp vào thứ 4 tuần sau, mời quý độc giả đón đọc.

0 bình luận

Viết bình luận của bạn

Địa chỉ email của bạn sẽ được bảo mật. Các trường bắt buộc được đánh dấu *
Các bài viết khác