18/04/2025
tiengtrungchamrai
47

Tuần trước, Tiếng trung chậm rãi đã lược dịch phần một – giới thiệu về ba người phụ nữ trong cuộc đời của Tô Đông Pha. Hôm nay, xin phép được tiếp tục giới thiệu về sự nghiệp của ông trước khi tìm hiểu vẻ đẹp của tác phẩm đệ tam hành thư – Hàn thực thiếp.

Như đã giới thiệu ở phần trước, Tô Thức sinh năm 1037, 20 năm sau, vào năm 1057, ông tham gia kỳ thi khoa cử quốc gia, và đỗ tiến sĩ ở vị trí thứ hai. Việc thi đỗ ở vị trí thứ 2 đối với Tô Thức mà nói là một việc khá tủi thân, bởi kỳ thực, năm đó đáng lẽ ông phải đỗ trạng nguyên.

Đề mục năm đó là 刑赏忠厚之至论, có nghĩa là đề nghị đàm luận về chế độ luật pháp quốc gia, có thể rộng mở hơn hay nghiêm khắc hơn. Khi đọc đề thi này, tôi cảm thấy rất xúc động. Bởi cách đây 1000 năm, trong kỳ thi khoa cử quốc gia, người ra đề yêu cầu với những bạn học sinh 19,20 tuổi, rằng là hãy thảo luận về chế độ pháp luật quốc gia, và đưa ra ý kiến cá nhân của mình. Có lẽ vì thế nhà Tống đã xuất hiện một loạt các phần tử tri thức và những văn nhất xuất sắc trong lịch sử Trung Quốc, trong đó có Âu Dương Tu, Phạm Trọng Yêm, Tư Mã Quang. Họ mang trong mình nhiều hoài bão với quốc gia, chế độ.

Sau khi nhận xong đề mục, chàng trai 20 tuổi đến từ Tứ Xuyên vui vẻ, khảng khái, viết nên một bài văn xuất sắc. Trong khi các thí sinh khác còn đang gãi đầu, gãi tai không biết viết như thế nào thì Tô Thức đã viết xong. Hai chủ khảo quan của cuộc khảo thí năm đó là Mai Nghiêu Thần và Âu Dương Tu, họ cũng đều là những người xuất chúng. Thật sự là phong vân tế hội, bởi vì nếu như Tô Thức gặp phải một khảo quan không tốt thì cũng không ổn.

Mai Nghiêu Thần mở khảo quyển (bài thi) ra, vô cùng sửng sốt bởi vì chữ viết rất đẹp, văn cú viết rất hay, và quan điểm đối với chế độ pháp luật quốc gia lại vô cùng thông thấu. Ông thấy đây đúng là một đại tài tử. Vì vậy, ông không dám chấm điểm, liền chạy đi tìm chủ khảo quan là Âu Dương Tu. Ông đưa cho Âu Dương Tu xem. Âu Dương Tu vô cùng kinh ngạc và tự hỏi: đây là bài của ai?

Bạn biết đấy, thời thế gia lúc bấy giờ, những thiếu niên tài hoa, thường có tiếng tăm hay những lời đồn thổi, vì vậy Âu Dương Tu suy ngẫm và không thể đoán ra là ai. Sau đó, ông lại nghĩ không biết đó có phải là học sinh của mình – Tăng Củng. Tăng Củng cũng là một trong bát đại gia Đường Tống. Nếu như là Tăng Củng, mà tôi là chủ khảo quan, lại chấm điểm cho học sinh của mình cao điểm nhất, chắc chắn sẽ bị mọi người nghị luận, bàn tán. Và để tránh phiền hà, ông chấm điểm cao thứ hai cho bài thi này.

Và khi bóc phần niêm phong ghi tên tuổi và quê quán, thì hóa ra lại là một thanh niên đến từ Tứ Xuyên tên Tô Thức. Và ngay trong đêm hôm đó, Âu Dương Tu đã tới bái kiến hoàng đế khi đó là Tống Nhân Tông. Ông nói, cuộc khảo thí năm nay đã hoàn tất, điều tôi vui nhất không phải là nhìn thấy bài văn của trạng nguyên, mà là bài thi đỗ điểm cao thứ hai của một chàng trai đến từ Tứ Xuyên.

Ông nói với hoàng đế, người này có cái nhìn thông thấu về chế độ pháp luật quốc gia, sau này, sẽ là nhân tài trở thành tể tướng. Hoàng đế Tống Nhân Tông khi đó đã có tuổi, mọi người đều biết rằng trong 40 năm trị vì của Tống Nhân Tông là những niên đại mà bắc Tống thái bình nhất. Sau đó là thời kỳ biến pháp của Tống Thần Tông. Tuy nhiên, sau này khi Tô Thức ở tuổi trung niên, không những không trở thành tể tướng như Âu Dương Tu dự ngôn, mà lại luôn lạc nạn, bị đả áp mạnh mẽ.

Lúc này, hoàng hậu của Tống Nhân Tông, sau này là thái hậu, nghe nói Tô Thức bị giam trong tù ngục liền khóc và nói với hoàng đế trẻ tuổi lúc bấy giờ là Tống Thần Tông, rằng: năm đó, lão hoàng đế vẫn còn tại vị, Âu Dương Tu đã từng diện kiến và nói rằng người này tương lai sẽ là nhân tài tể tướng. Câu nói này đã cứu mạng Tô Thức, bởi vì Tô Thức khi đó đã bị phán tội chết.

Trong cuộc đời của Tô Thức, có nhiều kẻ ám hại ông, nhưng cũng có không ít người giúp đỡ, hỗ trợ ông. Và ngay cả Tô Thức cũng không ngờ rằng, nhờ câu nói của Thái Hậu đã giúp ông thoát được tội chết.

Mặc dù đen đủi không được trở thành trạng nguyên, nhưng Tô Thức may mắn được sống trong một thời đại tuyệt vời, đó chính thời Tống. Cho dù lịch sử Trung Quốc thường nói Tống Triều quốc nhược dân bần. Cho dù quân sự đời Tống đánh đâu, thua đấy nhưng triều Tống để lại cho thế hệ sau nền văn hóa thật đáng kinh ngạc.

Ngày nay, chúng ta đi tới Cố cung Đài Bắc, chúng ta nhìn thấy những bức thư pháp đẹp nhất, hội họa đẹp nhất, đồ gốm đẹp nhất, tơ lụa đẹp nhất, đều là của Tống triều. Đồ gồm của đời Tống không chỉ là tạo nên đỉnh cao của văn hóa Trung Quốc, mà cũng là đỉnh cao văn hóa thế giới. Không giống như đồ gốm của đời Đường là tam thể, vô cùng hoa lệ. Triều Tống chỉ dùng một màu, ví dụ như màu trắng, gọi là định diêu, hay màu nhữ diêu được là màu thiên thanh sau cơn mưa. Từ đời Tống, đồ gốm Trung Quốc hình thành một phong cách mỹ học, chính là thanh nhã, đạm nhã. So với triều Đường thì triều Tống, chính là ta không đối tỉ cường đại, ta không đối tỉ hoa lệ, ta đối tỉ với sự thanh nhã. Đứng ở góc độ này, chúng ta có thể hiểu thêm đằng sau cuộc đời của Tô Thức có một thời đại tốt đẹp.

Và đó là một sự kiện xảy ra năm Tô Thức 20 tuổi.

Tiếp dưới đây, mời các bạn độc giả cũng thưởng thức bài từ nổi tiếng của Tô Thức – Điệp luyến hoa. Bài từ này, Chiêu Vân thường hát cho Tô Thức nghe.

花褪残红青杏小

Hoa thoái tàn hồng thanh hạnh tiểu,

Khi nhìn thấy hoa phai tàn, chúng ta luôn cảm thấy đó là một sự bi ai. Vào mùa xuân khi nhìn những cánh hoa rơi, phai sắc, nhưng trong suy nghĩ của Tô Thức có một thứ khiến cho chúng ta xúc động.

Nhìn thấy sự bi ai, cảm thương trong cuộc sống, thì ông nói rằng mặc dù hoa đã phai sắc, nhưng sau đó bạn sẽ nhìn thấy cành cây đã mọc ra quả rồi.

Ông khiến cho chúng ta nhận ra rằng, mùa xuân sắp qua đi, hoa đều rơi rụng khắp trời, nhưng khi nhìn lên nhành cây thì bạn không nên bi ai nữa, vì đã ra quả rồi. Ông nhìn thấy sự thay đổi của cảnh vật.

燕子来时,绿水人家绕,

Yến tử phi thì,

Lục thuỷ nhân gia nhiễu.

Câu thơ đẹp tựa như một bức họa vậy, và thi từ đơn giản đến mức tột cùng. Mùa xuân, chim yến bay về. Ông đứng trên dốc núi, nhìn thấy một giường nước nhỏ màu xanh, một dòng sông nhỏ bao quanh nhà người ta.

枝上柳绵吹又少.

Chi thượng liễu miên xuy hựu thiểu,

Vào mùa xuân, hoa liễu bay trong gió, liễu nhứ – bông liễu bay, đây lại là việc bi ai. Bởi vì lại nhìn thấy hoa đang bay rụng. Nhưng Tô Thức vẫn nhắc nhở chúng ta rằng, những hạt giống đó cho dù đã bay đi nhưng rồi sẽ mọc thành một cây mới.

天涯何处无芳草

Thiên nhai hà xứ vô phương thảo.

Câu thơ tuyệt đẹp bởi vì những hạt giống đó bay tới thiên nhai hải giác, chân trời góc bể, thì nó cũng sinh trưởng thành một sinh mệnh mới.

Tôi thích nhất đoạn thơ phía sau, bởi tôi hi vọng có một vị đạo diễn nào có thể quay thành một bộ phim. Bởi vì trong bài thơ, Tô Thức sử dụng thủ pháp chuyển cảnh thú vị.

墙里秋千墙外道

Tường lý thu thiên, tường ngoại đạo,

Góc quay quay vào phía trong tường trước và có hình ảnh đu quay, lại quay ra phía bên ngoài có một con đường.

墙外行人,墙里佳人笑

Tường ngoại hành nhân,

Tường lý giai nhân tiếu.

Phía ngoài tường chính là Tô Thức đang tản bộ, máy quay dừng lại ở Tô Thức, rồi lại chuyển đến phía trong tường có giai nhân cười. Bên trong có nhiều giai nhân đang chơi đu quay.

Vì vậy, bạn sẽ thấy rằng, bức tường chính là phần ngăn cách, và bởi vì Tô Thức nghe thấy bên trong các giai nhân đang cười cười nói nói, chơi đu quay. Ông cảm thấy mùa xuân đẹp như vậy, những người con gái ấy chắc hẳn cũng xinh đẹp lắm, nhưng ông không thể nhìn thấy, bởi vì có một bức tường cao.

Và câu thơ tiếp theo là:

笑渐不问声渐悄。

Tiếu tiệm bất văn thanh tiệm tiễu,

Trong câu thơ này đã hé lộ ra một chi tiết, Tô Thức đã leo lên tường ngó vào trong. Và khi đó, các cô gái đột nhiên nhìn thấy một chàng trai không quen biết trèo lên tường thì hét to là có kẻ háo sắc và chạy biến mất.

Tô Thức cảm thấy buồn bã, bởi vì tôi không có ý xấu gì. Bởi vì đang tiết trời mùa xuân, nghe thấy tiếng cười nói, và tôi trèo lên tường nhìn, sau đó bị các cô gái hiểu nhầm, tại sao lại có một người lạ lại leo lên nhìn trộm chúng tôi.

多情却被无情恼

Đa tình khước bị vô tình não

Ở Tô Thức có sự khảng khái, chân tình mà một văn nhân Trung Quốc khó có thể có.

Mùa xuân, sắc xuân đẹp như vậy, tôi yêu những thứ tôi cảm thấy vô cùng đẹp đẽ. Nhưng cái này thường bị hiểu nhầm, bởi vì người ta sẽ nghĩ rằng, đó là háo sắc.

Có người nói rằng, bài từ Điệp Luyến Hoa này được viết khi ông bị điều đi Hoàng Châu những năm tuổi trung niên. Tuy nhiên, một bài hát khiến cho Chiêu Vân khóc đẫm vạt áo, chính là những bài hát thời thanh thiếu niên. Bài từ này mang lại cảm giác vô cùng thanh xuân thì tôi tin nó được viết khi Tô Thức còn rất trẻ.

多情却被无情恼, (Đa tình khước bị vô tình não) không chỉ các thiếu nữ hiểu nhầm ông, sau này cũng có nhiều học giả, nhà phê bình cũng hiểu nhầm ông. Thậm chí, có đại học giả thời Thanh còn nói rằng văn nhân không thể làm thế được, làm sao trèo lên tường nhà người ta. Bởi vì chúng ta cảm thấy đa tình có nghĩa là buông thả; làm người, tốt nhất nên quy củ một chút. Đứng trước một cái gì đẹp hoặc bạn thấy đẹp, nhưng tốt nhất đừng nên nói, bởi đó không phải là việc một văn nhân có thể làm.

Tất cả sự đa tình của Tô Thức không hề phạm tội. Bởi vì mùa xuân, tiết trời đẹp, ông thấy đẹp và không thể không cất lời ngợi ca cuộc đời. Và ở thời đại chúng ta, làm sao có thể tự do hơn, sống là chính mình hơn, mà biện hộ cho Tô Thức, ít nhất giữa chân và giả, kiên trì hơn một chút tính chân tình.

Khi Tô Thức gần 40 tuổi, ông hồi tưởng lại thê tử thuở thiếu thời, đã từng vô cùng yêu thương. Ông nói là ký mộng, bởi vì trong giấc mộng có mơ thấy Vương Phất quay trở lại, sau đó, ông có chút gì đó bất an. Sự bất an đó chính là nói: 十年生死两茫茫 Thập niên sinh tử lưỡng mang mang.

Mười năm qua, nàng đã ra đi, ta vẫn còn sống, và chúng ta không thể nhìn thấy nhau.

不思量 自难忘

Bất tư lường,

Tự nan vương.

Dường như không có mấy khi nhớ đến nàng, nhưng tự nhiên không thể nào quên, bởi vì trong cuộc đời đã có những tháng ngày vô cùng thân thiết. Bởi vì nhập mộng, trong mộng tương kiến.

千里孤坟,无处话凄凉

Thiên lý cô phần,

Vô xứ thoại thê lương.

Trong giấc mộng đêm qua, cảm thấy đất mả vô cùng thê lương. Dường như hai người không thốt nên lời.

Tôi thấy xúc động nhất là câu thơ 纵使相逢应不识, Túng sử tương phùng ưng bất thức, bởi vì gặp lại nhau, có lẽ chúng ta cũng không còn nhận ra nhau nữa. Và cũng bởi vì những năm tháng vội vã, chúng ta còn là chúng ta của những năm tháng ấy.



Năm đó là một soái ca, còn bây giờ là 尘满面 鬓如霜, (Trần mãn diện, Mấn như sương.) tóc đã bắt đầu điểm bạc rồi, bị ám hại, vướng bụi bặm trần gian, chốn quan trường. Bạn thử cảm nhận, mình với người thân nhất nhưng không thể nhận ra nhau, thì sẽ là cảm giác như thế nào.

Gần đây, tôi đọc Dương Giáng viết về Tiền Chung Thư, họ là một cặp vợ chồng rất yêu thương nhau. Và Tiền Chung Thư đi trước, sau đó Dương Giáng qua đời khi hơn 100 tuổi. Bà có viết trong quyển sách của mình < Viết tại biên thượng của nhân sinh> : tôi sắp ra đi rồi, nhưng không thấy bi ai, bởi vì tôi cảm thấy tôi sẽ đi gặp con gái và chồng tôi; nhưng bà bắt đầu sợ hãi. Khi đọc đến đây, tôi cảm thấy vô cùng cảm động, bởi vì bà nói tôi sẽ dùng dáng hình nào để gặp Tiền Chung Thư. Bởi vì khi mới yêu nhau, đó là một cô gái mười mấy tuổi. Tiền Chung Thư sẽ nhớ đến tôi khi là hai mươi hay ba mươi tuổi, hay là những năm năm mươi tuổi vô cùng khó khăn thời kỳ cách mạng văn hóa, hay là hình dáng thái bà bà bây giờ. Bà sợ hãi nghĩ rằng, không biết sẽ dùng hình dáng gì đi gặp Tiền Chung Thư. Đột nhiên tôi lại chợt nhớ đến câu thơ của Tô Thức: 纵使相逢应不识 (Túng sử tương phùng ưng bất thức). Tôi nghĩ rằng, bi ai lớn nhất không phải là không được gặp nhau, mà khi gặp nhau không còn nhận ra đối phương nữa.

Vì vậy, chúng ta mới hiểu ra rằng bài thơ Giang Thành tử, sẽ còn được yêu thích mãi mãi bởi vì tình cảm sâu đậm đến như vậy, bởi vì sâu đậm nên mới nói ra thành lời 纵使相逢应不识. ( nếu khi gặp nhau cũng không thể nhận ra nhau).

夜来幽梦忽还乡 Dạ lai u mộng hốt hoàn hương,

Không biết vì sao trong giấc mông đêm quá đột nhiên lại mơ về Tứ Xuyên. Bởi vì hai người họ kết hôn ở Tứ Xuyên.

小轩窗 正梳妆, Tiểu hiên song, Chính sơ trang.

Câu thơ đẹp tựa như một hình ảnh trong phim điện ảnh vậy. Tô Thức đột nhiên nhớ về người vợ khi 16 tuổi được gả đến vô cùng xinh đẹp. Buổi sáng, nàng ngồi trước cửa sổ để trang điểm; đó thực sự là khung cảnh vô cùng đẹp đẽ của tân hôn.

Chàng trai 19 tuổi vẫn còn nhớ y nguyên vẻ đẹp của thiếu nữ tuổi 16 của Vương Phất, và đột nhiên những điều đó trở lại trong giấc mộng đêm qua.

相对无言惟有泪千行

Tương cố vô ngôn,

Duy hữu lệ thiên hàng.

Các bạn thử nghĩ xem, 相对无言 là tương đối vô ngôn đó là Tô Thức khi 19 tuổi với Vương Phất 16 tuổi, hay khi Tô Thức 40 tuổi. Dường như tôi cũng không có đáp án, bởi vì tôi cảm thấy thơ thú vị ở chỗ, không một đáp án cụ thể, để chúng ta tự hiểu, tự cảm nhận với chính mình.

Chúng ta đọc thơ, rồi có lẽ cũng quên đi, nhưng có khoảnh khắc nào đó trong cuộc đời, có một câu thơ nào đó lại xuất hiện. Giống như Dương Giáng tư niệm đến Tiền Chung Thư; 纵使相逢应不识 ( Túng sử tương phùng ưng bất thức) có lẽ trở thành một câu nói vô cùng xúc động, có thể gọi thiên cổ tuyệt xướng, bởi vì câu nói ấy chứa đựng một tình cảm sâu đậm mà ai trong chúng ta rồi cũng có lúc trải qua. Nếu như nền văn hóa Trung Quốc thiếu đi câu thơ ấy, thiếu đi văn nhân ấy, thì sẽ thiếu đi bao nhiêu thứ làm xúc động lòng người.

Phần tiếp theo xin độc giả đón đọc vào thứ 4 tuần sau.

0 bình luận

Viết bình luận của bạn

Địa chỉ email của bạn sẽ được bảo mật. Các trường bắt buộc được đánh dấu *
Các bài viết khác