18/04/2025
tiengtrungchamrai
43

Hôm nay, Tiếng Trung chậm rãi mạo muội lược dịch và biên tập phần bình giảng về Đệ tam hành thư – “Hàn thực thiếp”. Tác phẩm thư pháp này hiện đang được bảo tồn tại Bảo tàng Cố Cung – Đài Bắc.

Chúng ta đều biết rằng Mỹ thuật Phương Tây có hội họa, có điêu khắc,.. nhưng mỹ thuật Trung Quốc đặc biệt có thêm thư pháp. Những bức thư pháp ngày nay được tôn vinh là những tác phẩm nghệ thuật, được trưng bày lưu giữ ở các bảo tàng nổi tiếng, nhưng ở thời điểm viết ra, đó đơn giản là những bức thư, bức thiệp, hay đề từ mà trong đó gửi gắm cảm xúc của người viết. Các bản thảo này viết bằng tay nên vô cùng sống động, tự do, tư tại, không cầu phải đẹp, nhưng cuối cùng lại là những tác phẩm thư pháp xuất sắc.

3 tác phẩm thư pháp viết theo thể hành thư đẹp nhất chính là “Lan Đình tập tự” của Vương Hy Chi thời Nam Bắc Triều, đứng thứ hai chính là “Tế điệt văn cảo” của Nhan Chân Khanh đời Đường, và đứng thứ ba chính là “Hàn thực thiếp” của Tô Đông Pha thời Tống.

“Hàn thực thiếp” được viết tại Hoàng Châu sau khi Tô Đông Pha được thả ra sau hơn 100 ngày bị giam trong ngục vì tội danh viết thơ mà đắc tội với nhiều người. Và trước khi đọc tác phẩm thư pháp này, Tiếng Trung chậm rãi xin mời quý bạn cùng tìm hiểu thêm đôi nét về văn nhân Tô Đông Pha.

Nhắc tới văn nhân Trung Quốc sẽ có rất nhiều tên tuổi, tuy nhiên, trong đầu tôi rất tự nhiên sẽ xuất hiện cái tên Tô Đông Pha. Chữ văn nhân, theo bạn, văn nhân nên cắt nghĩa như thế nào? Đó có phải là phần tử tri thức hay là học giả. Dường như, văn nhân không chỉ bao hàm cả ý nghĩa là phần tử tri thức hay học giả, văn nhân còn là một người có một thái độ sống, một quan điểm sống.

Đào Uyên Minh cũng là một văn nhân nổi tiếng mà cách đây không lâu Tiếng trung chậm rãi đã giới thiệu với tác phẩm “Đào Hoa nguyên ký”. Nhưng có lẽ trong tất cả các văn nhân Trung Quốc thì Tô Đông Pha chính là văn nhân thể hiện tình cảm với đời, với cuộc sống một cách cảm xúc nhất, chân thực nhất. Ông không phải là vị nho gia cổ lỗ, bảo thủ, và cũng không nghiêm nghị đến mức khiến bạn phải sợ hãi, ở ông toát lên sự phóng khoáng, khảng khái, tự nhiên.

Bạn hãy thử đọc câu thơ này xem ( ngay cả khi bạn mới học tiếng Trung chưa lâu) 明月几时有,把酒问青天( minh nguyệt kỷ thời hữu, bả tửu vấn thanh thiên), chúng ta sẽ thấy đều là những hán tự không khó, không cần phải tra tự điển. Hay câu 但愿人长久 (đãn nguyện nhân trường cửu), nguyện người được lâu dài, giản đơn đến mức giống như một câu nói buột miệng ra mà thôi.

Không sử dụng tự khó hay chưa nhiều ẩn ý trong thơ và phải chăng chính vì lẽ đó mà vị văn nhân này khiến cho người đọc sau 1000 năm vẫn thấy gần gũi và thân thiết. Đọc thơ khiến chúng ta thấy, ông không phải là một văn nhân cao cao tại thượng, mà như một người bạn trong cuộc sống đời thường. Và, các bạn biết đấy, hiếm có văn nhân nào lại có cái tên đi kèm với một món ăn, như là thịt đông pha.

Trước khi có tên Tô Đông Pha, tên thật của ông là Tô Thức. Ông sinh năm Tống Nhân Tông Cảnh Hựu niên 3, ngày 19 tháng 12, lịch âm, còn lịch dương là năm sau, 8 tháng 1 năm 1037, ở Mi Sơn, Tứ Xuyên. Cha của ông là Tô Tuân cũng là một trong bát đại gia Đường Tống.

Tô Thức, không chỉ bị ảnh hưởng bởi cha, mà mẹ chính là người chăm sóc ông khi cha vắng nhà. Vì vậy trong tính cách của Tô Thức có thể cảm nhận một điều gì đó rất ấm áp từ tình yêu thương của mẹ. Trong nền văn hóa nho giáo khi xưa, chúng ta thường hay nhắc tới nghiêm phụ từ mẫu. Nghiêm phụ chính là nói tới phụ thân thường khá nghiêm khắc, dạy dỗ những quy củ trong cuộc sống, nhưng mẫu thân sẽ khác, thường ấm áp và bao dung. Không biết sự ấm áp bao dung của người mẹ có quyết định đến quá trình trưởng thành của Tô Thức hay không, nhưng trong ông không phải là sự khô cứng, bảo thủ của người nho sĩ mà phần nhân tính lại được thể hiện vô cùng đậm nét.

Và trong phần một này, Tiếng Trung chậm rãi xin lược dịch phần giới thiệu về ba người phụ nữ trong cuộc đời của Tô Thức.



Người vợ đầu tiên là Vương Phất. Vương Phất 16 tuổi kết hôn với Tô Thức năm ông 19 tuổi.

Vương Phất cùng với Tô Thức trải qua những năm tháng thanh xuân của cuộc đời, sau đó qua đời khi 27 tuổi. Tình cảm phu thê thuở thiếu thời hơn 10 năm vô cùng sâu đậm đương nhiên khiến Tô Thức hoài niệm. 10 năm sau khi Vương Phất mất, một đêm nằm mộng, đột nhiên Tô Thức mơ đến Vương Phất, và viết thành bài thơ vô cùng xúc động có tên là “ Giang Thành Tử”.

十年生死两茫茫, 不思量自难忘

千里孤坟,无处话凄凉

Thập niên sinh tử lưỡng mang mang,

Bất tư lường,

Tự nan vương.

Thiên lý cô phần,

Vô xứ thoại thê lương.

Mười năm sống chết cả hai đều thăm thẳm,

Không suy nghĩ tới,

Nhưng vẫn khó quên được.

Nấm mộ đơn côi cách nơi ngàn dặm xa,

Không nơi kể hết nỗi thê lương.

( Trích thivien.net)

Các bạn biết đấy, thường thì thơ hay được viết cho tình nhân, chứ hiếm khi viết cho người thê tử hiền thảo ở nhà ;))

Và câu thơ này khiến cho tôi cảm thấy vô cùng xúc động, bởi vì Vương Phất qua đời khi còn rất trẻ, nên đương nhiên tình cảm phu thê sâu đậm sẽ khiến Tô Thức khắc khoải khôn nguôi. Tuy nhiên, ở đây Tô Thức lại viết ba chữ, nghe qua thì rất kỳ lạ, đó là 不思量 bất tư lường. Một trượng phu yêu thê tử của mình, thê tử mất đi, nhưng trong thơ lại nói rằng trong 10 năm ấy rất ít khi nhớ đến nàng.

Sau khi Vương Phất qua đời, Tô Thức lấy đường muội của Vương Phất, là Vương Nhuận Chi, và có cuộc sống mới, có con, và vô cùng bận rộn chốn quan trường, nên Tô Thức không nói luôn luôn nhớ tới nàng, mà lại nói 不思量自难忘, không nhớ nhưng không thể nào quên. Câu thơ chính là một lời nói thật lòng. Trong văn học, nếu như có nhân vật thật ở đằng sau, thường người sáng tác sẽ cố cho thật hơn, nhưng cố cho thật lại khó gây xúc động. Và ở đây, chính sự chân thành và tính chân thực đã tạo nên giá trị trung tâm trong các tác phẩm văn thơ của Tô Thức.

Vương Nhuận Chi là người vợ thứ hai của Tô Thức, là người phụ nữ vất vả nhất trong ba người vợ của ông. Giai đoạn này, Tô Thức làm quan nhưng cứ mỗi lần lại bị điều chuyển tới một nơi xa hơn, rồi bị nhiều người hãm hại, bao gồm cả việc Tô Thức bị giam cầm hơn 100 ngày.

Nhiều người sau này thậm chí trách cứ Vương Nhuận Chi, bởi vì khi Tô Thức bị oan ngục, ở nhà Vương Nhuận Chi đem đốt tất cả những bức thư viết tay của Tô Thức. Nhưng chúng ta cũng nên đồng cảm với Vương Nhuận Chi, bởi vì thời điểm đó, những kẻ ám hại Tô Thức tìm từng câu, từng từ để buộc tội ông. Là một thê tử trong nhà, phải gánh vác những mười miệng ăn, hơn nữa phải chống lại sự khủng bố tinh thần đến khủng khiếp, thì bà đành phải đốt hết các bức thư của Tô Thức.

Chúng ta cảm thấy, Vương Nhuận Chi là người thê tử đại diện cho tình yêu thương hi sinh đối với trượng phu. Vương Nhuận chi đóng một vai trò khác với Vương Phất, không phải lãng mạn thuở thiếu thời,mà bù đầu bận rộn với cơm nước, việc nhà.

Và đến những năm về sau, Tô Thức có một người thiếp, tên là Chiêu Vân.

Câu chuyện về Chiêu Vân vô cùng đặc biệt, bởi vì nếu như nhìn ở góc độ hiện đại thì sẽ có rất nhiều người cảm thấy khó đồng cảm với Tô Thức.

Tuy nhiên, nếu đặt trong thời kỳ nhà Thời Tống khi đó, có lẽ các bạn sẽ đồng cảm hơn chăng?

Nhà Tống có quan kỹ, chính là kỹ viện của nhà quan. Cho đến nhà Thanh, các kỹ viện vẫn được gọi là trường tam thư viện – một tên gọi rất ưu nhã. Bên trong là từng phòng, từng phòng để các văn nhân có thể đàm luận về văn học, và các kỹ nữ ngồi gẩy đàn tỳ bà cho các bài từ, bài thơ của các văn nhân. Và Tô Thức cũng thường lui tới các quan kỹ để tìm những người bạn tri kỷ chia sẻ về văn thơ.

Ở nhà Vương Nhuận Chi là người lo việc nhà, nhưng cũng không thể cầm những bài từ của Tô Thức mà cất lên thành bài ca, nhưng lại có một Chiêu Vân. Và ca kỹ thời bấy giờ thường là con cháu của các gia đình tội phạm chính trị, bị ép đưa đến các quan kỹ làm ca kỹ. Chiêu Vân vào quan kỹ khi mới 8 tuổi, và gặp Tô Thức khi 12 tuổi.

Nếu như không hiểu được bối cảnh thời lúc đó, thì chúng ta khó có thể hiểu tại sao Tô Thức lại cần một Chiêu Vân 12 tuổi làm thiếp.

Có một đoạn truyền kỳ kể về Chiêu Vân như sau, Ông quen Chiêu Vân. Sau khi hàn huyên vài câu, và đưa cho Chiêu Vân những câu từ ông viết. Chiêu Vân gẩy đàn tỳ bà và hát, khuôn mặt vô cùng u sầu. Vì vậy, Tô Thức mới hỏi Chiêu Vân, mấy tuổi thì bị đưa vào kỹ viện? Chiêu Vân nói là 8 tuổi, và bây giờ mấy tuổi: 12 tuổi. Sau đó Tô Thức mới hỏi Chiêu Vân ở đây có vui không? Và Chiêu Vân không trả lời, và rơi lệ. Và Tô Thức hỏi, nàng có đi cùng ta không? Chiêu Vân gật đầu đồng ý.

Sau này, Chiêu Vân trở thành tri kỷ hồng nhân những năm tuổi già của Tô Thức, mặc dù khoảng cách về tuổi tác là khá lớn. Bạn thử tưởng tượng xem, trong những tháng ngày khó khăn, tiếng đàn, tiếng hát những bài từ của Tô Thức được ngân lên, có lẽ sẽ là niềm an ủi lớn nhất.

Tô Thức là người rất thích ăn uống nên bụng rất to. Ông khá là nghịch ngợm và thường xoa bụng hỏi: bụng của ta như thế nào? Đương nhiên, có nhiều người nịnh bợ nói rằng, một bụng đầy văn thơ, ông đều lắc đầu nói, mọi người không hiểu tôi, và hỏi Chiêu Vân. Chiêu trả lời cái bụng đang làu bàu. Ông cười ha hả. Và đó là những câu chuyện nho nhỏ trong đời sống riêng tư của Tô Thức.

Và vì phần bình về “Hàn thực thiếp” do bác Tưởng Huân nói khá dài, nên Tiếng trung chậm rãi xin phép sẽ lược dịch tiếp vào thứ 4 tuần sau, mời quý độc giả đón đọc.

0 bình luận

Viết bình luận của bạn

Địa chỉ email của bạn sẽ được bảo mật. Các trường bắt buộc được đánh dấu *
Các bài viết khác