Tào Tuyết Cần có tổ mẫu là vú nuôi của vua Khang Hi. Mặc dù là vú nuôi, địa vị, thân phận vô cùng thấp kém nhưng lại rất gần gũi, thân thiết với vua. Vì vậy, vua Khang Hi đã cho gia đình họ Tào quản lí ngành dệt và ngành muối ở Giang Nam gọi là “Giang Ninh chức tạo”. Năm lần vua Khang Hi tuần du về Giang Nam thì đều ở nhà họ Tào, thì đủ biết sự sủng ái của nhà vua đối với gia đình ông ra sao.
Tuy nhiên, nếu như nhận được ân sủng của hoàng đế tại vị bao nhiêu thì khi cải triều hoán đại, sẽ rất dễ bị sao gia. Sao gia có nghĩa là tất cả của cải bị xung công quỹ, đàn ông bị bắt đi lính, phụ nữ bắt làm kĩ nữ, vô cùng bi thảm. Theo các học giả Trung Quốc cho rằng, Ung Chính năm thứ năm, gia đình họ Tào bị sao gia.

Ba đời vô cùng phồn hoa, giàu có, trong chớp mắt lụi tàn, khi đó Tào Tuyết Cần khoảng 14 tuổi. Sau đó, ông về sống ở ngoại ô phía tây thành Bắc Kinh, vô cùng nghèo đói, rau cháo qua ngày. Nhiều học giả cho rằng, Tào Tuyết Cần viết tiểu thuyết này trong vòng 10 năm, nhưng có lẽ là viết dài hơn. Ông không ngừng ghi chép câu chuyện gia tộc của mình, vì vậy, ông viết mỗi thứ một chút, không phải xây dựng một câu chuyện có kết cấu hoàn chỉnh, mà vô cùng tự do về mặt văn thể. Dường như, ông cũng không quá quan tâm phải viết xong cuốn tiểu thuyết này. Bởi vì hoàn thành không phải là tất cả, cuộc đời này cũng không bao giờ là chấm hết, chúng ta sẽ không biết điều gì sẽ xảy ra với chúng ta. Tuy nhiên, độc giả vô cùng khát khao biết kết cục của câu chuyện như thế nào, Giả Bảo Ngọc lấy ai. Và Cao Ngạc đã viết bổ sung 40 hồi cuối cùng ở thời vua Càn Long.
Tám mươi chương hồi đầu, tác giả không hề có bất kì miêu tả cụ thể nào về Lâm Đại Ngọc. Có lẽ nàng như một giấc mộng, xuống chơi với đời rồi lại đi. Sự tồn tại của Lâm Đại Ngọc như sự tồn tại của tâm hồn, chứ không phải là một thực thể. Nhưng sau hồi thứ 80, Lâm Đại Ngọc lại có miêu tả hình dáng ra sao, trang phục như thế nào. Và cho dù có rất nhiều học giả phê phán bút pháp của Cao Ngạc, nhưng nếu như có thể khiến Lâm Đại Ngọc chết đi, Tiết Bảo Thoa và Giả Đại Ngọc kết hôn, một bên là hôn lễ, một bên là tang gia, sự so sánh giữa hỉ kịch và bi kịch, cũng là phần kết khiến biết bao độc giả xúc động.
Tuy nhiên, kết cục thực sự của câu chuyện ra sao, chúng ta không hề biết. Bởi nếu như tác giả muốn viết mộng tưởng một đời, thì phồn hoa thực sự là một giấc mộng. Tác giả không quan tâm đến kết cục. Tác giả muốn nói với bạn rằng, cuối cùng tất cả sinh mệnh, tất cả quyền lực, tài sản, tình yêu, tất cả đều trống rỗng, đều là hư không. Và bên trong sự trống rỗng ấy là sự cố chấp, bạn biết là biết như vậy, nhưng cố chấp vẫn là cố chấp, có lẽ đó là ý nghĩa của hồng trần.
Hồng Lâu Mộng có phải do Tào Tuyết Cần viết hay không, đến nay Hồng học Trung Quốc vẫn còn đang tranh luận. Vì vậy thì đừng để chủ đề tác giả là ai, mà hãy quan tâm đến một người đã từng sống, từng trải qua bao nhiêu sự kiện, và đó là câu chuyện ông muốn ghi lại về cuộc đời của mình.
Đầy trang những chuyện hoang đường,
Tràn tít nước mắt bao nhượng chua cay.
Đừng cho chỉ giả là ngây,
Ai hay ý vị chỉ đầy ở trong?
Và có lẽ khi viết đến nửa quyển sách, ông tự dưng ngẫm lại, câu chuyện của mình có quá nhiều thứ vẩn vơ, đều không có liên quan đến thực tế đời sống, thi cử hay làm quan. Ông nhìn lại cuộc đời, cả đời chưa làm việc nào ra hồn cả, ngay cả viết tác phẩm này, đối với ông không hẳn là việc chính kinh, chuẩn tắc.
“Đầy trang những chuyện hoang đường, Tràn tít nước mắt bao nhượng chua cay”: Câu nói này có thể dùng trong tất cả các tác phẩm văn học, hoặc hay cả trong cuộc sống của chúng ta. Có một ngày nào đó, chúng ta mở trang nhật ký đã viết hay trầm tư nhìn lại những khoảnh khắc cuộc đời.
“Đừng cho chỉ giả là ngây”: Mọi người đều nói tác giả dường như bị điên, Chữ 痴, là một từ rất quan trọng trong mỹ học Trung Quốc. Từ này bao gồm 2 ý nghĩa hoàn toàn khác nhau, là ngơ ngân, si tình, hoặc trở ngại về trí tuệ. Tuy nhiên, tất cả những gì lý trí không thể giải thích được, chính là ngây, là si. Nhưng đời người nếu như không có chữ “ngây” này thì thật là vô tình. Dường như cả tác phẩm Hồng lâu mộng đều viết đến chữ “ngây” này, không biết tại sao Lâm Đại Ngọc luôn khóc, và Hồng Lâu Mộng có giải thích rằng:
Rất rất nhiều năm trước, ở bên bờ linh hà, linh hà có phải chăng là dòng sông linh hồn, có một cây cỏ sắp khô héo. Và có một hòn đá bên cạnh tu luyện thành một viên ngọc, và khi nhìn thấy cây cỏ sắp chết khô, thì ngày ngày lấy nước tưới cho cây cỏ, và cây cỏ hồi sinh, và sau đó tu luyện thành nữ thể.
Hòn đá một hôm động tâm phàm, muốn đến nhân gian, muốn kinh qua thế giới phồn hoa, Và cây cỏ nói rằng, ta đã nhận được ân huệ một đời, và không có nước đó để hoán trả lại. Vậy, hòn đá xuống trần thì ta cũng xuống trần và ta dùng nước mắt một đời để hoàn trả thì chắc cũng đủ. Và Lâm Đại Ngọc cứ luôn luôn khóc vì vậy. Và có lẽ trong cuộc đời này khi gặp những việc không thể giải thích được, thì phải chăng chúng ta lấy cách này để giải thích. Chúng ta không biết ai nợ ai, và đây là chính triết học phương đông – thuyết luân hồi. Chúng ta không chỉ có 1 kiếp này, mà kế tiếp của nhiều kiếp khác nhau. Và nếu kiếp này gặp nhau, thì đó là duyên phận.
( Bài viết được lược dịch từ chương trình Tưởng Huân bình giảng về Hồng Lâu Mộng)
Có 0 bình luận